Chuyện bắt đầu khá tình cờ. Một hôm điện thoại tôi hết pin qua đêm vì quên cắm sạc. Sáng dậy không có gì để cầm, tôi ngồi ở ban công khoảng hai mươi phút, uống nước, nhìn ra ngoài.
Hai mươi phút đó dài một cách lạ lùng. Không phải dài kiểu chán, mà dài kiểu rộng. Tôi nhớ mình đã nghĩ: hoá ra một buổi sáng vốn dĩ nhiều thời gian như vậy.
Hôm sau tôi thử lại, lần này cố ý. Rồi thành ba mươi ngày.
Thứ tôi tưởng sẽ xảy ra
Tôi tưởng mình sẽ làm được nhiều việc hơn. Kiểu như dậy sớm, đọc sách, tập thể dục, ghi nhật ký, tất cả những thứ mà người ta hay kể trong các bài viết về thói quen buổi sáng.
Không có gì trong số đó xảy ra cả. Tôi vẫn dậy giờ cũ, vẫn lười, vẫn có hôm nằm thêm hai mươi phút.
Thứ thật sự xảy ra
Cái thay đổi nằm ở chỗ khác. Suốt buổi sáng, tâm trạng của tôi là do tôi. Không phải do một tin nhắn công việc lúc bảy giờ, không phải do một cái tin tức mà tôi không chọn đọc, không phải do việc so sánh mình với ai đó vừa đăng gì đó.
Khi tôi mở điện thoại lúc chín giờ, những thứ đó vẫn còn nguyên ở đó. Nhưng lúc đó tôi đã có hai tiếng làm chủ đầu mình, và tôi phản ứng với chúng khác hẳn.
Không phải điện thoại lấy mất thời gian của tôi. Nó lấy mất quyền quyết định hôm nay tôi thấy thế nào.
Phần khó nhất
Phần khó không phải là buổi sáng. Phần khó là buổi tối hôm trước, lúc đặt điện thoại xuống và biết rằng sáng mai mình sẽ không cầm nó lên ngay.
Có một cảm giác hơi bồn chồn, kiểu như sợ bỏ lỡ gì đó. Cảm giác đó mất khoảng mười ngày mới nhạt đi. Tôi nghĩ đó là phần quan trọng nhất của cả thí nghiệm này: nhận ra mình đã bồn chồn tới mức nào mà không hề biết.
Bây giờ tôi không làm nghiêm ngặt nữa. Có hôm vẫn mở. Nhưng tôi biết cái cảm giác rộng rãi của buổi sáng đó ở đâu, và tôi biết đường quay lại khi cần.